Dòng Ô Lâu bao đời lặng lẽ chảy qua giữa những làng quê phía Nam Hải Lăng (Quảng Trị), mang theo phù sa, ký ức và hương vị của một vùng đất. Ở đó có vị chát ngọt của chè xanh, vị cay ấm của mứt gừng, mùi thơm của chiếc bánh lọc hấp trong lá chuối… Những món quà quê bình dị ấy đi qua thời gian, nuôi sống con người và giữ lại hồn cốt của một miền quê ven dòng sông cổ.

Giữ vị cay nồng của đất
Con sông Ô Lâu trong ký ức của nhiều người như một dấu gạch nối giữa hiện tại với miền đất Chăm Pa xưa. Tên dòng sông ấy từng đi vào sách “Ô Châu cận lục” của tiến sĩ Dương Văn An, rồi theo thời gian trở thành một phần trong đời sống F1686 đăng nhập của cư dân đôi bờ. Đứng bên Ô Lâu vào một buổi sớm, nhìn dòng nước lững lờ chảy qua những bãi bồi, những rặng tre già và mái nhà thấp thoáng sau vườn cây, vẫn dễ cảm nhận được nhịp sống cũ còn nguyên đâu đó. Nam Hải Lăng hôm nay đang đổi thay từng ngày nhưng vùng đất này vẫn giữ cho mình nhiều hương vị xưa cũ. Ở đó có những cánh đồng lúa trải dài phía Đông, có những vùng gò đồi phía Tây nối tận chân dãy Trường Sơn. Những làng quê như: Mỹ Chánh, Hội Kỳ, Phước Điền, Câu Nhi, Văn Quỹ, Thi Ông, Phú Kinh… đã quần tụ bên dòng sông từ bao đời nay.
Ở Mỹ Chánh, nghề làm mứt gừng đã có từ lâu. Cứ mỗi độ cuối năm, cả làng gần như đỏ lửa. Mùi gừng, mùi đường, hơi nóng từ những chảo mứt lớn quyện vào nhau, lan khắp xóm nhỏ. Người dân kể rằng ngày trước, nguyên liệu làm mứt chủ yếu là gừng trồng ở vùng gò đồi phía Tây Nam dòng Ô Lâu. Gừng nơi đây cay vừa phải nhưng thơm và đượm vị. Người quê thường dùng để nấu với chè xanh hoặc làm thuốc giữ ấm trong mùa lạnh. Mứt gừng ở đây khô nhưng dẻo, không quá cay gắt. Cái ngọt thanh hòa cùng vị nồng ấm của gừng khiến người ăn nhớ rất lâu. Nó không chỉ là món ăn ngày Tết, mà còn như một phần ký ức của người quê. Mỗi năm, các cơ sở ở thôn Mỹ Chánh đưa ra thị trường gần 400 tấn mứt gừng, tạo việc làm cho khoảng 150 lao động địa phương. Dẫu vậy, nghề này cũng đã trải qua không ít thăng trầm. Bà Nguyễn Thị Điệp, chủ cơ sở Tuấn Tâm, nhớ lại có thời điểm cả làng có tới hàng trăm hộ làm mứt. “Ngày trước đông lắm, giờ chỉ còn vài cơ sở giữ nghề. Làm nghề này cực, phụ thuộc thị trường nhiều nên nhiều người không theo nữa nhưng tôi vẫn muốn giữ lấy cái nghề truyền thống của cha ông mình”, bà Điệp nói.
Mỹ Chánh còn được biết đến bởi món bánh lọc, món bánh không cầu kỳ, nhưng ăn một lần thường khó quên. Cái ngon nằm ở lớp bột sắn được nhồi kỹ, dẻo mà không bở, vỏ bột ôm lấy phần nhân tôm đậm vị. Người dân ở đây bảo rằng làm bánh lọc tưởng dễ mà khó. Từ chọn bột, làm nhân đến gói lá đều cần sự khéo léo và kinh nghiệm. Lá chuối phải là lá vừa độ, hấp lên mới giữ được màu xanh và mùi thơm tự nhiên. Những con tôm dùng làm nhân phần lớn được đánh bắt từ vùng sông nước Ô Lâu. Bánh chín bằng hơi nước nên giữ được vị ngọt của tôm, vị thơm của lá và cái dai mềm đặc trưng của bột. Món ăn ấy không sang trọng nhưng đủ để người xa quê mỗi lần nhắc tới lại thấy lòng chùng xuống.
Chè xanh và nỗi nhớ của người quê
Với F1687 nhà cái WC 2026 Nam Hải Lăng, chè xanh Mỹ Chánh là thức quà gắn bó với đời sống thường nhật bao đời. Điều thú vị là chè không được trồng ở làng Mỹ Chánh mà nằm sâu hơn về phía Tây, ở những vùng gò đồi như Trầm Sơn, Tân Lương, Vực Kè… Những triền đất sỏi đá, nhiều nắng gió ấy lại tạo nên thứ chè có vị rất riêng. Người dân địa phương gọi đó là chè lá sẻ. Lá nhỏ, cây không quá cao nhưng cho nước xanh đậm, vị chát lúc đầu rồi ngọt dần nơi cổ họng. Tên gọi “chè Mỹ Chánh” thực ra xuất phát từ chợ Mỹ Chánh nằm bên dòng Ô Lâu. Từ xa xưa, chè sau khi hái đều được đưa về đây mua bán, theo những chuyến buôn trên con đường thiên lý Bắc – Nam. Có người nói cây chè theo chân lớp cư dân đầu tiên đến vùng đất này từ buổi mở cõi. Giữa những năm tháng khai hoang gian khó, chè vừa là thức uống giữ tỉnh táo, vừa như vị thuốc giúp con người chống lại lam sơn chướng khí. Qua hàng trăm năm, cây chè vẫn bám rễ trên vùng gò đồi ấy. Ông Ngô Văn Thi ở thôn Tây Chánh sau nhiều năm rời quê đi làm ăn xa lại trở về với vườn chè cũ của gia đình. “Đi đâu thì đi, vẫn nhớ vị chè quê mình. Chè ở đây uống riết thành quen, xa là nhớ”, ông Thi nói.
Người trồng chè ở Nam Hải Lăng hôm nay vẫn giữ cách làm truyền thống, ít dùng phân thuốc hóa học. Chè được chăm tự nhiên nên năng suất không cao, sức mua giảm, thu nhập chỉ còn khoảng một nửa nhưng nhiều gia đình vẫn giữ vườn chè như giữ một phần ký ức của cha ông. Bà Lê Thị Minh Tâm, một chủ vườn chè ở thôn Tây Chánh, nói: “Người dân chủ yếu “lấy công làm lãi”, rồi tận dụng đất dưới tán chè để nuôi gà, trồng thêm cây ăn quả kiếm thêm thu nhập”.
Thiên Phúc
Tin cùng chuyên mục
Video Clip


Bình luận (0)